Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Bài 4: Kinh nghiệm cai tận hưởng quản hệ thống NACCS của Nhật Bản.

Trung tâm NACCS được thành lập vào tháng 5-1977 dưới hình thức một tổ chức thuộc Chính phủ và chuyển thành cơ quan hành chính độc lập vào tháng 10-2003

Bài 4: Kinh nghiệm quản lí hệ thống NACCS của Nhật Bản

T. Việc tư nhân hóa trọng tâm NACCS xuất hành từ đặc điểm là hệ thống NACCS phục vụ cho cả khu vực tư nhân và khu vực công, nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả cung ứng quốc tế và sức cạnh tranh giữa các cảng biển và sân bay. Mọi giao tế trên hệ thống NACCS đều được tính phí. Văn phòng quản thông tin  Là đơn vị trực thuộc Tổng cục thương chính Nhật Bản nằm trong Bộ Tài chính, có bộ máy gọn nhẹ với khoảng 12 người.

Giờ, Trung tâm NACCS chịu trách nhiệm quản ngại hệ thống NACCS và tham gia vào việc phát triển và nâng cấp chương trình và cung cấp các dịch vụ hệ trọng đến vận hành hệ thống NACCS.

Văn phòng chịu bổn phận giám sát tuốt tuột các hệ thống CNTT, bao gồm cả hai trọng điểm NACCS và Kudan, mạng thông tin. Đối với khối tư nhân, các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực logistics, đại lý làm thủ tục hải quan, ngân hàng, thương nhân hoạt động XNK là những đối tượng chính tham dự dùng hệ thống.

Để thực hành nhiệm vụ này, trọng điểm NACCS kí hiệp đồng với Công ty NTT Data để bảo trì, nâng cấp phát triển hệ thống. Trung tâm điều hành hệ thống thông quan hàng hóa tự động (NACCS)  Việc quản ngại và điều hành Hệ NACCS được hội tụ về Trung tâm NACCS. Trọng tâm Kudan - vận hành, phát triển hệ thống CIS  trọng tâm Kudan là đơn vị thuộc hải quan Nhật Bản, được thành lập trong bối cảnh tinh giảm bộ máy tổ chức ở cấp trung ương và đẩy mạnh phân cấp về địa phương.

Trung tâm NACCS có 5 phòng. Cũng từ đặc điểm này mà nhân sự tại đây được phân chia theo tỉ lệ 50/50, tức là một nửa là viên chức Chính phủ (cán bộ thương chính và một số cán bộ thuộc các cơ quan khác), nửa còn lại đến từ các công ty tư nhân lớn.

Hiện Trung tâm NACCS có 107 người (khi mới thành lập có 25 người). Trung tâm Kudan kí hợp đồng với các công ty tin học để bảo trì kĩ thuật, hỗ trợ vận hành, nâng cấp phát triển hệ thống. Trọng điểm Kudan chịu trách nhiệm chính quản lí, vận hành, phát triển và nâng cấp hệ thống CIS (hệ thống thông tin thương chính phục vụ riêng cho mục đích quản của cơ quan hải quan).

Trọng điểm Kudan được đặt tại thương chính vùng Tokyo song ít chịu sự chi phối từ thương chính Tokyo mà cốt tử duy trì mối quan hệ dưới hình thức ít, thảo luận, tham vấn trong công việc. Bên cạnh đó, trọng điểm cũng phối hợp với trọng điểm NACCS tham gia cai quản và vận hành hệ thống NACCS ở một chừng độ giới hạn, phần lớn can hệ đến nghiệp vụ hải quan như thuế suất, chính sách,… Nhân sự tại Trung tâm Kudan là cán bộ, công chức thương chính được lựa chọn từ các lĩnh vực nghiệp vụ khác nhau, được đào tạo tại chỗ về kĩ năng quản, vận hành hệ thống.

Ngoài ra, Trung tâm Kudan cũng quản lí một số hệ thống vệ tinh nhỏ như COMTIS (Hệ thống thông báo và thu thuế đối với thư tín quốc tế), ACTIS (Hệ thống thông báo và thu thuế đối với hàng đường không), COMOS (Hệ thống rà soát và mạng thông báo hàng đường biển).

Trọng điểm Kudan được cơ cấu thành 7 phòng chức năng với trên 60 biên chế.

Phí giao tiếp dùng hệ thống NACCS chính là ngân sách để duy trì hoạt động của Trung tâm. Đến tháng 10-2008, cơ quan này chính thức được cổ phần hóa, trong đó Nhà nước là cổ đông chi phối (chiếm trên 50%) để đảm bảo quyền kiểm soát của Chính phủ đối với việc bổ dụng Ban giám đốc cũng như vận hành bít tất hệ thống.

Văn phòng là nơi đưa ra quyết định về định hướng phát triển, nâng cấp các hệ thống CNTT của thương chính và chịu trách nhiệm về phân bổ ngân sách đầu tư, rà soát, giám sát mua sắm đấu thầu các hệ thống CNTT.

Trung tâm này là đơn vị sự nghiệp có thu. Các bên dự sử dụng và vận hành hệ thống NACCS bao gồm cả khối cơ quan công và khối tư nhân.

Ban lãnh đạo gồm 1 giám đốc điều hành và 3 tổng giám đốc. Bình. Nhìn vào mô hình tổ chức cai quản vận hành NACCS/CIS của Nhật Bản có thể thấy nó được hình thành từ nhu cầu tinh giảm bộ máy trung ương và tăng cường sự tham gia của khu vực tư, qua đó nâng cao tính cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ song vẫn đảm bảo sự kiểm soát của Chính phủ đối với các hệ thống.

Về phía các cơ quan Chính phủ có: cơ quan hải quan; cơ quan cai quản nhập cư và hành khách xuất nhập cảnh; cơ quan kiểm dịch động, thực vật; cơ quan kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm; cơ quan quản lí cảng; cơ quan biên phòng; các văn phòng quản lý thương nghiệp; chính quyền địa phương.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét