Tienphong
Dù lãi suất ở khuynh hướng giảm mạnh, đến cuối tháng 6 chỉ còn 7%/năm với kỳ hạn dưới 6 tháng và kỳ hạn dài chỉ còn từ 8-10%/năm, nhưng huy động vốn vẫn tăng mạnh. Nên chi, nếu cứ dùng mãi dụng cụ lãi suất, thì chính sách tiền tệ của Việt Nam có thể đi chệch hướng! Cần những giải pháp đồng bộ và quyết liệt Có thể thấy, nếu chỉ một mình phương tiện lãi suất, thì dù được linh hoạt điều chỉnh giảm cũng khó phát huy tác dụng, đặc biệt nếu không đi kèm với các giải pháp đồng bộ về giải quyết nợ xấu, hàng tồn kho, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Cụ thể: Thứ nhất, NHNN tiếp kiến thực hành các biện pháp ổn định thị trường tiền tệ, như: kiểm soát lạm phát, giữ ổn định tỷ giá, đẩy mạnh tái cơ cấu các ngân hàng thương mại, nâng cao năng lực tài chính cho các ngân hàng thương nghiệp hoạt động tốt, xử lý nợ xấu. Phạm Tuyên (2013). Kinh tế vĩ mô, Nxb Thống kê, Hà Nội 2. Nguồn: internet Vai trò của lãi suất Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc dùng tiền mà họ vay từ một người cho vay.
Đẩy nhanh dòng vốn trên thị trường tiền tệ. Lãi suất cho vay với các lĩnh vực ưu tiên giảm còn 10%/năm. (Ii) Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh dinh của doanh nghiệp : Đối với các doanh nghiệp, lãi suất cho vay hình thành nên hoài vốn và là hoài đầu vào của quá trình sinh sản, kinh doanh.
899. Song song, nối giảm lãi suất của các khoản vay cũ xuống mức 11-12%/năm cho các doanh nghiệp đang có dư nợ lãi suất cao. Diễn biến của nó được đưa tin hàng ngày trên các công cụ thông tin đại chúng Nhưng, không phải là “đũa thần” Trong rất nhiều trường hợp, phương tiện lãi suất đã phát huy tác dụng như kỳ vọng của nhà điều hành, cụ thể là nhà băng quốc gia (NHNN).
Nguyễn Đức Trung (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu nhà băng) cho biết, kết quả khảo sát các doanh nghiệp cho thấy, tăng hay giảm lãi suất đóng vai trò rất mờ nhạt đến tăng trưởng tín dụng (Phạm Tuyên, 2013). Nếu L3 L4, cố nhiên, các doanh nghiệp làm ăn bình thường, chân chính sẽ không thể tồn tại.
Nguyên do do đâu? nguyên cớ tăng trưởng tín dụng kém nhạy cảm đối với việc hạ lãi suất thường ngày là do nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp cốt yếu phụ thuộc vào năng lực sản xuất, kinh doanh, cũng như sức khỏe nội tại của chính doanh nghiệp đó. Với vai trò quan yếu như vậy, nên lãi suất là một trong những biến số dược theo dõi một cách chém đẹp nhất trong nền kinh tế. - Ngày 10/5, NHNN giảm tiếp 1% các lãi suất cốt lõi.
Tài liệu tham khảo 1. Thành thử, sự biến động của lãi suất có tác động đến đầu tư, đến tiêu dùng, qua đó tác động đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô. Theo NHNN, tín dụng toàn hệ thống đến cuối tháng 6 ước tăng 4,5% so với cuối năm 2012, trong đó tín dụng bằng VND tăng 7,55%, tín dụng bằng ngoại tệ giảm 9,4%. Cũng tại Hội thảo này, dưới góc độ quản lý Nhà nước, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ - nhà băng Nhà nước, ông Phạm Xuân Hòe cho biết, câu chuyện lãi suất chỉ chiếm 1%, còn lại 99% phụ thuộc vào vấn đề của nền kinh tế.
Lãi suất tái cấp vốn còn 7%/năm; lãi suất tái chiết khấu còn 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng còn 8%/năm.
Tổng công cụ tính sổ đến hết tháng 5/2012 đạt 3. Với mẫu chọn lựa từ 479 doanh nghiệp niêm yết cho thấy, có 63% doanh nghiệp chịu đựng được mức lãi suất 15%. Cụ thể, tỷ trọng doanh nghiệp có hệ số lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh dinh trên dư nợ lớn hơn 25% và 15% lần lượt chiếm tới 44% và 63%. Com. Thứ hai , các ngân hàng thương nghiệp cũng cần đấu có biện pháp gia hạn nợ, điều chỉnh hạn vay cho doanh nghiệp.
Thứ ba , tìm đầu ra cho sản phẩm, phóng thích hàng tồn kho. Nếu so sánh với mức sinh lời từ hoạt động kinh doanh, thì mặt bằng lãi suất cuối năm 2012 và quý đầu năm 2013 là hoàn toàn hiệp với khả năng chịu đựng của các nhóm doanh nghiệp này.
Về căn bản 3 loại lãi suất này đều có liên quan khăng khít với nhau và tuân thủ theo nguyên tắc: (i) Ở nền kinh tế của thị trường lành mạnh, để bảo đảm giá trị của lãi suất thực so với lãi suất danh nghĩa, lãi suất còn phải tuân thủ theo bất phương trình: L1 Vấn đề nan giải nhất là lãi suất cho vay phải nhỏ hơn khả năng sinh lợi của nền kinh tế.
Trần lãi suất USD cũng giảm 0,75% xuống còn 1,25%/năm. Đến cuối tháng 6, lãi suất huy động kỳ hạn ngắn dao động từ 5%-7%/năm, lãi suất kỳ hạn dài từ 7,1%-10%/năm. Vì vậy, bên cạnh việc điều chỉnh lãi suất, thì cần có những giải pháp quyết liệt hơn nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm hàng tồn kho.
Đây là nhóm doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng chi trả lãi vay ngân hàng với mức lãi suất vay vốn cao hơn 15% trong gian đoạn đầu năm 2012. Vn. Huy động vốn của toàn hệ thống đến 20/5/2013 tăng 5,8% so với cuối năm 2012 và ước trong 6 tháng đầu năm đạt mức tăng khoảng 7%. CafeF (2013). Nhưng, hiện nay, không thường nhật là ở chỗ doanh nghiệp muốn vay nhưng không hội đủ điều kiện, trong đó phổ quát nhất là nợ cũ chưa trả, nợ xấu còn nhiều.
Gregory Mankiw (2003). - Ngày 28/6, NHNN giảm 0,5% trần lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng xuống 7%/năm, kỳ hạn 6 tháng trở lên được thả nổi, trần lãi suất kỳ hạn dưới 1 tháng còn 1,2%/năm.
Trong đó: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 1. Cụ thể là: - Ngày 26/3, NHNN giảm 1% các lãi suất chủ chốt gồm tái cấp vốn (còn 8%), tái chiết khấu (6%), cho vay qua đêm trong thanh toán liên ngân hàng (9%), lãi suất cho vay 5 lĩnh vực ưu tiên (10%/năm).
“Mức sinh lời thấp của nhóm doanh nghiệp này bắt nguồn cốt yếu từ nội tại của doanh nghiệp, từ những khó khăn chung của nền kinh tế chứ không thể hoàn toàn đổ lỗi cho lãi suất cao”, ông Trung cho biết.
Vì thế, giải pháp trước mắt đó là Chính phủ, các bộ, ngành có liên can, các hiệp hội ngành hàng, các địa phương tìm cách kích chuồng xí dùng, đầu tư; điều chỉnh chính sách thuế nhằm góp phần khai thông một phần khó khăn cho hoạt động tín dụng.
Đối với nhóm có mức sinh lời từ 12%-15% (chiếm tỷ trọng 7%), thì lợi nhuận sau khi đã chi trả lãi vay của một số doanh nghiệp sẽ ở mức thấp.
Như vậy, đến cuối tháng 6, lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại Nhà nước còn dưới 13%/năm bao gồm cả các khoản vay cũ và mới, giảm mạnh so với mức 15% cuối năm 2012.
Lãi suất huy động liên tục giảm do tín dụng tăng yếu, nhà băng thừa vốn. Tại Hội thảo Tín dụng ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế do Học viện nhà băng tổ chức ngày 7/5/2013, TS. Ảnh minh họa. Trần lãi suất huy động giảm từ 8% xuống 7,5%/năm. Đặc biệt, hiện nay, dụng cụ lãi suất được nhận định là đã kém nhạy cảm với cung - cầu tín dụng. Tuy nhiên, về trung và dài hạn, thì các bộ, ngành, địa phương cần làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển các ngành hàng của nền kinh tế, nâng cao chất lượng công tác dự báo, không để tình trạng đầu tư theo kiểu “phong trào”.
N. 158 tỷ đồng, tăng 5,3% so với cuối năm 2012, cao hơn so với mức tăng 3,88% tính đến cuối tháng 5/2012 trong kỳ so sánh.
(Iii) công cụ điều tiết vĩ mô : Lãi suất tạo hoài của người đi vay. (Iv) dụng cụ phân phối nguồn lực có hiệu quả nhằm phá hoang và sử dụng triệt để các nguồn lực của nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm, NHNN có 3 lần điều chỉnh giảm lãi suất.
Vì vậy, nhiệm vụ của Nhà nước là lựa chọn mức "trần" lãi suất hoặc dùng “lãi suất căn bản” sao cho thích hợp điều kiện cụ thể và đích kinh tế - xã hội của mình, Đồng thời, phải luôn tính đến và có những biện pháp khắc phục hậu quả mặt trái luôn song hành của cả việc nâng cao hay hạ thấp lãi suất, nếu không, sẽ vấp phải vòng xoáy mới của lạm phát tùy theo chừng độ phản ứng của các chủ thể kinh tế… Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế rất quan trọng, được trình bày như sau: (i) dụng cụ khuyến khích tiện tặn đầu tư : Lãi suất là phương tiện khuyến khích lợi ích vật chất để cuộn các khoản tằn tiện của chủ thể kinh tế, tạo quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
331. Vn/Kinh-Te/625957/Ngan-hang-mac-ket-voi-tien-chet-tpp. Lãi suất huy động và cho vay đều ở thiên hướng giảm mạnh. Ngân hàng mắc kẹt với tiền “chết”, Báo tiên phong online, truy cập từ http://www.
Đặc biệt, cần nối nâng cao lòng tin của thị trường đối với các tín hiệu chính sách của NHNN và sự tin cẩn lẫn nhau giữa các thành viên thị trường, sáng tỏ hóa thông báo, chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ cùng với việc củng cố vững mạnh các định chế tài chính để tạo nền tảng căn bản cho việc hình thành lãi suất trên thị trường dựa trên quan hệ cung cầu, qua đó có thể hình thành đường cong lãi suất chuẩn; nối hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thị trường, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà băng thương nghiệp phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, áp dụng công nghệ nhà băng đương đại, xúc tiến nhanh dòng chu chuyển vốn… Đồng thời, xử lý nghiêm những hành vi sai phạm giữ nghiêm kỷ luật thị trường.
Thị trường tài chính thường phân biệt 3 loại lãi suất: (i) Lãi suất chính sách là lãi suất, mà các ngân hàng trung ương có thể kiểm soát được trực tiếp, ở Việt Nam đó chính là lãi suất căn bản; (ii) Lãi suất liên nhà băng là lãi suất các ngân hàng thương mại cho vay lẫn nhau; (iii) Lãi suất thương mại là lãi suất các ngân hàng thương nghiệp vay hoặc cho vay các đối tượng không phải là nhà băng trong nền kinh tế, tỉ dụ lãi suất huy động, lãi suất cho vay.
Tuy nhiên, trong thời kì gần đây, việc sử dụng công cụ này đang cho thấy, tác động không như mong muốn. 219 tỷ đồng , đạt tốc độ tăng 2,54%. Đến hết tháng 5, nợ xấu của toàn hệ thống giảm xuống 4,65% trên tổng dư nợ, thay vì 6% vào khoảng tháng 2 và 8,6%-10% hồi tháng 10/2012.
Báo cáo Kinh tế tài chính tháng 06/2013, phát hành tháng 7/2013 3. Lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại cổ phần cũng giảm mạnh, với lãi suất trung, dài hạn hiện phổ biến còn quanh 13%-14%/năm, lãi suất ngắn hạn còn 9,5%-11,5%/năm. Theo kết quả khảo sát động thái doanh nghiệp Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2013 của Phòng Công nghiệp và thương mại Việt Nam (VCCI), hơn 70% doanh nghiệp cho biết khó khăn của họ giờ không còn là vấn đề lãi suất hay không thể tiếp cận vốn nhà băng, mà là ở thị trường, đầu ra cho sản phẩm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét